- Nếu bít đầu tiên là 0 thì đây là địa chỉ IP lớp A.
- Nếu bít đầu tiên là 1 và bít thứ hai là 0 thì đây là địa chỉ lớp B.
- Nếu hai bít đầu tiên là 1 và bít thứ ba là 0 thì đây là địa chỉ lớp C.
- Nếu ba bít đầu tiên là 1 và bít thứ tư là 0 thì đây là địa chỉ lớp D.
- Nếu bốn bít đầu tiên là 1 thì đây là địa chỉ lớp E.
Nếu địa chỉ được biểu diễn dưới dạng thập phân dấu chấm, bạn chỉ cần nhìn số đầu tiên để xác định lớp địa chỉ.- Nếu số đầu nằm trong khoảng từ 0 đến 127 thì đây là lớp A.
- Nếu số đầu nằm trong khoảng từ 128 đến 191 thì đây là lớp B.
- Nếu số đầu nằm trong khoảng từ 192 đến 223 thì đây là lớp C.
- Nếu số đầu nằm trong khoảng từ 224 đến 239 thì đây là lớp D.
- Nếu số đầu nằm trong khoảng từ 240 đến 255 thì đây là lớp E.
Mặt nạ mạng con là kết hợp của Mặt nạ mặc định với giá trị thập phân cao nhất của các bit lấy từ các Octet của địa chỉ máy chủ sang phần địa chỉ mạng để tạo địa chỉ mạng con.
Mặt nạ mạng con bao giờ cũng đi kèm với địa chỉ mạng tiêu chuẩn để cho người đọc biết địa chỉ mạng tiêu chuẩn này dùng cả cho 254 máy chủ hay chia ra thành các mạng con. Mặt khác nó còn giúp bộ định tuyến trong việc định tuyến cuộc gọi.
Nguyên tắc chung
- Lấy bớt một số bit của phần địa chỉ máy chủ để tạo địa chỉ mạng con.
- Lấy đi bao nhiêu bit phụ thuộc vào số mạng con cần thiết mà nhà khai thác mạng quyết định sẽ tao ra.
1.2 Địa chỉ đặt biệt
Một số địa chỉ trong khoảng địa chỉ lớp A, B và C được sử dụng cho các địa chỉ đặc biệt
Địa chỉ mạng
Trong các lớp A, B và C, một địa chỉ có phần địa chỉ trạm gồm toàn bít 0 không được dùng cho bất cứ trạm nào. Nó được sử dụng để định nghĩa địa chỉ mạng. Nói cách khác, mạng được xem như một thực thể và có địa chỉ IP với phần địa chỉ trạm gồm toàn bít ‘0’. Chú ý rằng địa chỉ mạng khác với phần địa chỉ mạng. Phần địa chỉ mạng chỉ là một phần của địa chỉ IP, còn địa chỉ mạng là một địa chỉ có phần địa chỉ trạm gồm toàn bít ‘0’. Địa chỉ này không thể sử dụng để định nghĩa một địa chỉ nguồn hoặc đích trong một gói IP.
Ví dụ về địa chỉ mạng:
- Lớp A: 10.0.0.0
- Lớp B: 128.1.0.0
- Lớp C: 192.168.2.0
Địa chỉ quảng bá trực tiếp (Direct Broadcast)
Trong các địa chỉ lớp A, B và C, nếu phần địa chỉ trạm gồm toàn số ‘1’ thì địa chỉ này được gọi là địa chỉ quảng bá trực tiếp. Địa chỉ này được router sử dụng để gửi một gói tới tất cả các trạm trong một mạng cụ thể. Tất cả các trạm sẽ chấp nhận gói có loại địa chỉ này. Chú ý rằng địa chỉ này chỉ được sử dụng như địa chỉ đích trong một gói IP.
Ví dụ về địa chỉ quảng bá trực tiếp:
- Lớp A: 10.255.255.255
- Lớp B: 128.5.255.255
- Lớp C: 192.168.3.255
Địa chỉ quảng bá giới hạn (limited Broadcast)
Nếu một địa chỉ có phần địa chỉ mạng gồm toàn bít ‘1’ và địa chỉ trạm cũng gồm toàn bít ‘1’ thì địa chỉ này được dùng để định nghĩa địa chỉ quảng bá trong mạng hiện tại. Một trạm muốn gửi một thông báo tới tất cả các trạm khác trên mạng có thể sử dụng địa chỉ này làm địa chỉ đích trong gói IP. Tuy nhiên router sẽ chặn các gói có địa chỉ loại này để hạn chế quảng bá trong mạng cục bộ. Chú ý rằng địa chỉ này (255.255.255.255) thuộc về lớp E. Tất cả các thiết bị trong mạng này đều nhận và xử lý gói tin.
Địa chỉ lặp vòng (loopback)
Địa chỉ IP với byte đầu tiên là 127 được sử dụng làm địa chỉ lặp vòng, địa chỉ được sử dụng để kiểm tra phần mềm TCP/IP trên một máy. Khi địa chỉ này được sử dụng, gói sẽ không đi khỏi máy mà nó sẽ quay trở lại phần mềm giao thức. Địa chỉ này có thể được sử dụng để kiểm tra phần mềm IP. Ví dụ, một ứng dụng, chẳng hạn “Ping” có thể gửi một gói với địa chỉ đích là địa chỉ lặp vòng để kiểm tra xem phần mềm IP có khả năng nhận và xứ lý gói hay không.
Một ví dụ khác là địa chỉ lặp vòng có thể sử dụng bởi một tiến trình khách (một ứng dụng đang chạy) để gửi một thông báo tới một tiến trình chủ trên cùng một máy. Chú ý rằng địa chỉ lặp vòng chỉ được sử dụng như địa chỉ đích trong một gói IP.
Địa chỉ riêng
Trong một mạng biệt lập (không nối tới Internet), người quản trị có thể sử dụng bất kỳ địa chỉ nào mình muốn. Tuy nhiên, để tránh sự nhầm lần giữa một địa chỉ thực trên Internet và một địa chỉ dùng trong một mạng riêng, tổ chức cấp số Internet đã dành một số khối địa chỉ để sử dụng cho mạng riêng. Các khối địa chỉ này không được cấp cho các mạng tham gia vào Internet.
Các địa chỉ dùng cho mạng riêng như sau:
- Lớp A: 10.0.0.0 (1 mạng)
- Lớp B: 172.16.0.0 đến 172.31.0.0 (16 mạng)
- Lớp C: 192.168.0.0 đến 192.168.255.0 (256 mạng)
2. Khuôn dạng của gói tin IP
Version IP-V4:Khi gói tin tới bộ định tuyến, bộ định tuyến sẽ phân tích nếu thấy phiên bản cũ hơn thì bộ định tuyến sẽ hủy bỏ gói tin và thông báo cho trạm nguồn biết.
Header length: Độ dài của gói tin tính theo đơn vị 32 bit.
Type of service:Kiểu dịch vụ được sử dụng trong tiêu đề gói tin IP để chỉ ra quan hệ ưu tiên cho việc chuyển các gói tin, thông thường các gói tin IP được xử lý theo nguyên tắc FIFO, các bit 0,1,1 trong trường kiểu dịch vụ chỉ ra các thông tin về trễ, thông lượng và độ tin cậy. Thông thường 2 trong số 3 thông tin đó sẽ được đặt, nhưng trường chức năng này không buộc tất cả các bộ định tuyến phải xử lý.
- D ( Delay): độ trễ
D=0: yêu cầu truyền trễ bình thường.
D=1: yêu cầu trễ thấp.
- T ( Throughput): thông lượng
T=0: thông lượng bình thường.
T=1: thông lượng cao.
- R ( Reliability): độ tin cậy
R=0: độ tin cậy bình thường.
R=1: độ tin cậy cao.
Total length: Độ dài toàn bộ của gói tin Max 216=64 KB, thông thường ngắn hơn.
Identification:Số định danh của gói tin. Nếu 1 gói tin phải phân thành nhiều mảnh để truyền đi thì tất cả các mảnh phải có cùng định danh.
Flag: 1 bit dữ trữ
DF (don’t Fragment)
DF=1: không được phép phân gói tin thành mảnh tin.
DF=0: cho phép phân mảnh để truyền.
MF (More Fragment)
MF=1: cho biết còn có các mảnh tin tiếp theo thuộc cùng một gói tin.
MF=0: đây là mảnh tin cuối cùng của gói tin hoặc gói tin không phân mảnh.
Offset: Cho biết vị trí của mảnh tin trong gói tin, đơn vị tính là 8 byte. Tại tram thu, 3 trường (5), (6), (7) cho phép ghép các mảnh tin thành gói tin.
Time to live (TTL): Thời gian sống của gói tin. Trường này có 8bit ban đầu tính đơn vị là giây, vậy thời gian gói tin được phép tồn tại trên mạng là:
28=256 giây > 4 phút
Trong thực tế trường này chứa số bước nhảy chính là số bộ định tuyến mà gói tin được phép đi qua. Cứ mỗi lần gói tin qua một bộ định tuyến thì TTL sẽ trừ đi 1 và khi bằng 0 thì gói tin sẽ bị hủy và thông báo cho trạm nguồn. Đây là giải pháp để điều khiển tắc nghẽn.
Protocol:Cho biết giao thức được sử dụng ở tầng trên.
- Nếu tầng giao vận là TCP thì có mã là 6.
- Nếu tầng giao vận là UDP thì có mã là 17.
- Nếu là ICMP thì có mã là 1
.
Heder checksum: Kiểm tra lỗi cho đầu gói tin.
Soure Address: Địa chỉ nguồn.
Destination Address: Địa chỉ đích.
Các địa chỉ này được dùng để định đường trên mạng Internet nên còn gọi là IP address. Địa chỉ dài 32 bit được chia thành 4 byte, mỗi byte được thể hiện bằng một số thập phân và cách nhau bởi dấu chấm.
Option: Lựa chọn.
- Record Route: ghi lại địa chỉ của tất cả các bộ định tuyến mà gói tin đi qua. Độ dài của trường lựa chọn này do trạm nguồn quy định. Nếu số bộ định tuyến mà gói tin đi qua quá nhiều thì địa chỉ của các bộ định tuyến sau sẽ không được ghi vào gói tin.
- Time Stamp (nhãn thời gian): ghi lại thời gian mà gói tin đi qua bộ định tuyến. Có 3 cách ghi.
. Khi gói tin đi qua bộ định tuyến, ghi lại danh sách thời gian gói tin qua bộ định tuyến.
. Ghi địa chỉ IP và thời gian tương ứng khi gói tin đi qua.
. Trạm nguồn sẽ ghi sẵn một số địa chỉ cần đo thời gian và gói tin tới bộ định tuyến có địa chỉ tương ứng thì sẽ được ghi thời gian vào.